Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS)

0
4

TỘI CỐ Ý GẦN THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC (ĐIỀU 134 BLHS): BẢN CHẤT PHÁP LÝ, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Nằm trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là một trong những tội danh phổ biến nhất trong thực tế đời sống pháp đình.

Hành vi cố ý gây thương tích không chỉ trực tiếp hủy hoại sức khỏe, để lại những di chứng nặng nề về thể xác lẫn tinh thần cho nạn nhân mà còn là nguyên nhân hàng đầu gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bài viết này sẽ phân tích chuyên sâu về cấu thành tội phạm, các khung hình phạt, thực tiễn áp dụng và những vướng mắc pháp lý xoay quanh Điều 134 BLHS.

1. Cấu thành tội phạm Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS)

Để xác định một hành vi có phạm tội cố ý gây thương tích hay không, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét kỹ lưỡng 4 yếu tố cấu thành tội phạm:

Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội danh này chính là quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người. Đối tượng tác động ở đây là thân thể của con người đang sống. Mọi hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động lên thân thể người khác, làm thay đổi trạng thái sinh lý bình thường hoặc gây tổn thương các cơ quan, bộ phận trên cơ thể họ đều bị coi là xâm phạm khách thể này.

Mặt khách quan của tội phạm

  • Hành vi khách quan: Người phạm tội có hành vi tác động trái pháp luật lên cơ thể người khác thông qua việc sử dụng vũ lực (đấm, đá, tát…), sử dụng hung khí nguy hiểm (dao, kiếm, súng, gậy gộc…) hoặc các thủ đoạn nguy hiểm khác (tạt axit, đầu độc chất độc ở liều lượng chưa chết người…). Hành vi này có thể thực hiện bằng hành động hoặc trong một số trường hợp hy hữu là không hành động (cố ý không cung cấp thức ăn, y tế cho người lệ thuộc nhằm làm suy kiệt sức khỏe họ).

  • Hậu quả: Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác. Thông thường, tỷ lệ tổn thương cơ thể (tỷ lệ thương tật) được xác định thông qua Kết luận giám định pháp y của cơ quan có thẩm quyền. Tiêu chuẩn cơ bản để truy cứu TNHS theo Khoản 1 là tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%.

  • Mối quan hệ nhân quả: Giữa hành vi khách quan và hậu quả tổn hại sức khỏe phải có mối quan hệ nhân quả trực tiếp. Tức là tổn thương trên cơ thể nạn nhân phải do chính hành vi của người phạm tội gây ra, chứ không phải do một yếu tố bệnh lý hoặc tai nạn nào khác xen vào.

Đặc biệt lưu ý: Pháp luật hình sự quy định nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng (như dùng hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ biết là có thai, người già yếu, có tổ chức, có tính chất côn đồ…) thì người thực hiện hành vi vẫn bị truy cứu TNHS theo Khoản 1 Điều 134.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý (bao gồm cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả tổn hại sức khỏe của người khác có thể xảy ra nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có thái độ bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường — bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của BLHS:

  • Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi khung hình phạt của tội này.

  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội này ở các khung hình phạt rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại các Khoản 3, 4, 5 của Điều 134).

2. Hệ thống các khung hình phạt theo Điều 134 BLHS

Điều 134 BLHS được thiết kế với cấu trúc phân hóa tội phạm rất rõ ràng, bao gồm 6 khoản với mức hình phạt tăng dần tùy thuộc vào tỷ lệ thương tật và các tình tiết định khung tăng nặng:

  • Khoản 1 (Tội phạm ít nghiêm trọng): Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng cho trường hợp gây thương tích từ 11% – 30% hoặc dưới 11% nhưng kèm tình tiết tăng nặng định khung (dùng hung khí nguy hiểm, côn đồ…).

  • Khoản 2 (Tội phạm nghiêm trọng): Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm nếu gây thương tích từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng có thêm các tình tiết tăng nặng tại Khoản 1.

  • Khoản 3 (Tội phạm rất nghiêm trọng): Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm nếu gây thương tích từ 61% trở lên (nếu không thuộc Khoản 4) hoặc từ 31% đến 60% kèm các tình tiết tại Khoản 1.

  • Khoản 4 (Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng): Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đối với các hành vi làm chết người, hoặc gây thương tích làm chết người, hoặc gây tổn thương 61% trở lên nhưng có tính chất côn đồ/dùng hung khí nguy hiểm.

  • Khoản 5 (Mức phạt cao nhất): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với các trường hợp làm chết 02 người trở lên, hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương mỗi người 61% trở lên kèm tình tiết định khung tăng nặng.

  • Khoản 6 (Giai đoạn chuẩn bị phạm tội): Người nào chuẩn bị vũ khí, hung khí nguy hiểm hoặc thành lập nhóm nhằm gây thương tích cho người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

3. Thực tiễn áp dụng và những vướng mắc pháp lý thường gặp

Mặc dù điều luật quy định rất chi tiết, quá trình giải quyết các vụ án Cố ý gây thương tích trong thực tế của giới luật sư và các cơ quan tố tụng vẫn gặp phải không ít khó khăn, tranh chấp:

Ranh giới mong manh giữa “Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” và “Tội giết người”

Đây là bài toán đau đầu nhất tại các phiên tòa hình sự. Một hành vi đánh người bằng hung khí nguy hiểm vào vùng trọng yếu (như đầu, ngực) dẫn đến việc nạn nhân tử vong có thể bị định tội danh theo hai hướng:

  • Nếu chứng minh được bị cáo có mục đích tước đoạt mạng sống của nạn nhân (hoặc đâm/đánh liên tiếp mặc kệ nạn nhân tử vong), bị cáo sẽ bị truy tố về Tội giết người (Điều 123).

  • Nếu bị cáo chỉ có ý định đánh cho bõ tức, gây thương tích nhưng không may trúng vùng hiểm hoặc do biến chứng y khoa dẫn đến tử vong, hành vi sẽ thuộc Khoản 4 Điều 134 (Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người).

Việc xác định chính xác ý thức chủ quan của bị cáo qua lời khai, động cơ, hướng tấn công và cường độ tấn công là yếu tố quyết định để tránh việc xử lý oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Vấn đề khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Tội cố ý gây thương tích thuộc Khoản 1 Điều 134 chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại (hoặc người đại diện). Nếu tại tòa hoặc trong quá trình điều tra, bị hại tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ.

Điều này mở ra cơ hội cho cơ chế hòa giải, đền bù dân sự (thỏa thuận tài chính) giữa người phạm tội và nạn nhân. Tuy nhiên, nó cũng dễ bị lợi dụng nếu người phạm tội dùng tiền bạc hoặc áp lực xã hội đen để ép buộc nạn nhân rút đơn.

                       QUY TRÌNH XỬ LÝ VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
                      
   Xảy ra hành vi     Giám định pháp y    Tỷ lệ từ 11% trở lên     Khởi tố vụ án/bị can
  ─────────────────> ──────────────────> ───────────────────────> ───────────────────────
    (Dùng vũ lực,     (Đo lường tỷ lệ     (Hoặc < 11% nhưng kèm    (Khởi tố theo Khoản 1 
      hung khí)         thương tật)        tình tiết côn đồ...)     cần đơn của bị hại)

KẾT LUẬN

Điều 134 BLHS về tội cố ý gây thương tích là công cụ pháp lý sắc bén để trừng trị những hành vi hung hãn, coi thường sức khỏe và tính mạng của người khác. Việc hiểu rõ cấu thành tội phạm và các quy định xoay quanh điều luật này không chỉ giúp các cơ quan tư pháp thực thi pháp luật một cách chuẩn xác, công bằng, mà còn giúp mỗi công dân nâng cao nhận thức, kiềm chế hành vi ứng xử trong cuộc sống thường nhật, tránh những phút giây bốc đồng dẫn đến vòng lao lý nghiêm trọng.

Theo bạn, đối với các trường hợp sử dụng “mạng xã hội” để kích động, lôi kéo người khác đến dàn trận, cố ý gây thương tích tập thể (dù bản thân người kích động không trực tiếp ra tay), việc áp dụng hình phạt theo Khoản 6 (chuẩn bị phạm tội) hay xử lý với vai trò đồng phạm chủ mưu đã thực sự đủ sức răn đe chưa?

========================================================

ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐỖ GIA VIỆT

Giám đốc - Luật sư:  Đỗ Ngọc Anh Công ty luật chuyên:
Hình sự - Thu hồi nợ - Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình.
Văn phòng luật sư quận Long Biên:  Số 2C ngách 16 ngõ 29 phố Trạm, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0944 450 105
Email: luatsudongocanh@gmail.com
Hệ thống Website:
www.luatsungocanh.vn
#luatsubaochua #luatsutranhtung #luatsuhinhsu #luatsudatdai #thuhoino
Bài trướcĐề xuất tăng nặng hình phạt một số tội danh
Bài tiếp theoTội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (gây tai nạn chết người)